Saturday, 04/04/2020 - 12:52|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Tiểu học số 2 Đồng Sơn

CẦN HIỂU ĐÚNG BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHƯ THẾ NÀO?

Hoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) là một hoạt động nằm trong nhiệm vụ, kế hoạch chuyên môn của từng năm học được ngành và các trường học tiến hành song song cùng với hoạt động dạy- học và một số hoạt động khác....Nó phải được coi là...

 

 

          Hoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) là một hoạt động nằm trong nhiệm vụ, kế hoạch chuyên môn của từng năm học được ngành và các trường học tiến hành song song cùng với hoạt động dạy- học và một số hoạt động khác....Nó phải được coi là nghiên cứu khoa học hay phương pháp dạy học của giáo viên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động này còn tồn tại nhiều vấn đề chưa được nhìn nhận, đánh giá, hiểu đúng bản chất của nó. Vì vậy, ở bài viết này tôi muốn mạn phép chia sẻ với bạn đọc để phần nào hiểu đúng bản chất của hoạt động trên.

          1. Vậy SKKN là gì?

        "Sáng kiến kinh nghiệm" là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người viết tích lũy được trong thực tiễn công tác giảng dạy và giáo dục, bằng những họat động cụ thể đã khắc phục được những khó khăn mà với những biện pháp thông thường không thể giải quyết được, góp phần nâng cao hiệu quả rõ rệt trong công tác của người giáo viên.

        Theo từ điển Tiếng Việt: sáng kiến là "ý kiến mới, giúp công việc tiến hành tốt hơn" còn kinh nghiệm là "điều hiểu biết có thể áp dụng hữu hiệu cho cuộc sống, có được nhờ tiếp xúc, từng trải với thực tế". Như vậy hoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) đã bao hàm trong đó 2 yếu tố chính: một yếu tố mới - cái người ta chưa phát hiện ra, chưa nhìn thấy; 2 là yếu tố có được do quá trình trải nghiệm, va chạm thực tế từ việc học tập, giảng dạy, quản lí... khái quát lên thành kinh nghiệm của bản thân. Và cả hai yếu tố này có tác dụng thúc đẩy quá trình làm việc nhanh gọn, hiệu quả cao.

          Để hiểu kỹ hơn về quá trình viết SKKN chúng ta có thể làm một phép so sánh nhỏ giữa hoạt động này với hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH).

Viết SKKN

NCKH

- Viết lại một cách rõ ràng, hệ thống những kinh nghiệm của bản thân đối với nhiệm vụ mà mình đang đảm nhận.

- Chỉ cần nêu vấn đề

- Các biện pháp giải quyết vấn đề

 

 

 

- Nêu được đối chiếu, so sánh trước và sau khi vận dụng kinh nghiệm bằng một vài thông số.

- Kết luận vấn đề và đưa ra kiến nghị đề xuất

- Thực hiện một đề tài không đơn thuần mang tính chủ quan, cá nhân dù chỉ một người thực hiện

 

- Nhất thiết phải có Lịch sử vấn đề

- Cơ sở khoa học (cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn). Đây là nội dung cơ bản, quan trọng để phân biệt đề tài NCKH với SKKN

- Cần có  thực nghiệm riêng

- Kết luận, kiến nghị

- Cần có Tài liệu tham khảo

- Phụ lục

 ...

          Nếu như viết SKKN: tạo nên sự học tập tích cực; hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu; phát triển tư duy sáng tạo và khả năng diễn đạt logic những căn cứ, những lập luận thì NCKH lại phản ánh thực trạng những vấn đề đó; nêu lên vấn đề khoa học cần giải quyết; giải quyết vấn đề một cách chặt chẽ, thấu đáo và kết luận vấn đề. Nói cách khác viết SKKN và NCKH là hai quá trình khác nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ cho nhau và có một đích chung là cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc theo hướng tích cực, nhanh gọn.

          Hoạt động viết SKKN thực chất là bước tập dượt để giáo viên, cán bộ quản lí dễ dàng làm công tác nghiên cứu khoa học.

2. Thực trạng tổ chức viết và đánh giá SKKN ở các trường phổ thông hiện nay

2.1. Thực trạng viết SKKN ở các trường phổ thông

          Lâu nay, hoạt động viết SKKN dường như để phục vụ cho việc xét các danh hiệu thi đua, phục vụ cho việc thi giáo viên giỏi các cấp chứ chưa được nhận thức đúng ý nghĩa, tầm quan trọng của nó.       

Hầu hết SKKN hiện nay chưa áp dụng vào thực tiễn dạy học, quản lý. Các SKKN còn mang tính tự phát, thiếu tính tổ chức, hướng dẫn tỉ mĩ, chạy đua theo số lượng, chưa chú trọng đến chất lượng...

Đa số các trường không có kế hoạch ngay từ đầu năm, (nếu có kế hoạch thì cũng đang dừng lại trên bình diện công văn, giấy tờ), đợi đến ngày gần hết thời gian quy định mới đôn đốc, hối thúc viết SKKN rồi tổ chức chấm chọn cực nhanh sau đó chuyển về trên chấm cho đạt chỉ tiêu. Điều đáng buồn có những giáo viên vì lỡ đăng kí nạp cấp phòng nên ngay mai nạp đêm nay copy trên mạng thông qua việc "chắp vá", thay đổi vài chi tiết như tên trường, lớp thực nghiệm, năm làm. Có vài hiệu trưởng nhìn mặt, nhìn danh hiệu họ đã có để chọn SKKN dự thi cấp cao chứ không kiểm tra chặt chẽ nội dung bên trong. Bởi thế, nhiều năm qua dường như hoạt động viết SKKN chưa được nhận thức đầy đủ về bản chất và phát huy hết tác dụng vốn có của nó. Điều này phải chăng cũng có những căn nguyên:

          Thứ nhất, đa số giáo viên chưa nắm được quy trình, cấu trúc của một SKKN.

          Thứ hai, khi làm SKKN một bộ phận phận giáo viên xác định sai đối tượng nghiên cứu, đề tài một đàng, đối tượng nghiên cứu một nẻo. Do không nắm được cái cốt lõi mình làm cái gì và giải pháp nào sẽ lựa chọn trên đối tượng ấy.

          Thứ ba, có những SKKN xét về mặt ý tưởng thì tốt, nhưng diễn đạt, hành văn lũng cũng, không đúng với thể thức văn bản, không phân biệt được văn bản nói và văn bản viết.

          Thứ tư, các đề tài SKKN làm thường mòn cũ, trùng lặp (thường xoay quanh các vấn đề: Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn; Bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, phụ đạo HS yếu kém; Phong trào xây dựng trường học thân thiện)..., tính thực tiễn chưa cao.

Thứ năm, một số giáo viên chưa biết hạn định đề tài, do đó đề tài được chọn có nội hàm quá rộng, vượt quá khả năng và thực tế tác giả đã làm, nên nội dung SKKN chưa thể hiện đầy đủ yêu cầu của đề tài. Vì vậy, bản SKKN đó trở thành hời hợt, chung chung, thậm chí ngay tên đề tài đã bộc lộ mâu thuẫn, sai về mặt kiến thức cơ bản.

          Thứ sáu, thời gian dành cho việc nghiên cứu viết SKKN có phần hạn chế do quỹ thời gian của giáo viên nhất là giáo viên tiểu học chủ yếu là ở trường, hàng ngày họ phải giải quyết một "núi" công việc. Vì thế, việc tiếp cận thông tin, cập nhật mảng nghiên cứu có phần chưa sâu, chưa đầy đủ.

          Thứ bảy, còn là một hoạt động bắt buộc, chưa tạo được động lực, hứng thú, niềm say mê trong đội ngũ nhà giáo. Vì thế còn có hiện tượng mua, bán, xin, cho sao chép SKKN như bộ phim "Rừng chắn cát" đã phản ánh. Có những sáng kiến tên hai cá nhân khác nhau nhưng nội dung lại là một.

          Có lẽ còn tồn tại nhiều nguyên nhân nữa nhưng vượt lên trên bảy nguyên nhân mà tôi vừa dẫn ra ở trên thì nguyên nhân chính, cơ bản khiến giáo viên, cán bộ quản lí (CBQL) thấy khó, thấy ngại đó là: họ không nắm được bản chất, cấu trúc, cách triển khai, trình bày đề tài khi có ý tưởng, không biết bắt đầu từ đâu, đi theo hướng nào, mục nào...

2.2. Thực trạng đánh giá hoạt động này

          Đánh giá các SKKN thường bắt đầu ở Hội đồng chấm SKKN cấp trường, cấp thành phố (huyện), cấp tỉnh.... Song dù chấm ở cấp nào cũng còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế của nó. Chính điều này mà các SKKN còn chưa "tinh", chưa tạo động lực cho những giáo viên, cán bộ quản lý có tâm huyết, đam mê với lĩnh vực  nghiên cứu này.

- Về khâu tổ chức:ở cấp trường thường là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng chấm, hoặc thêm một hai đại diện của các tổ chuyên môn chấm. Điều này chưa thể hiện tính khách quan hoàn toàn. Có một điều phải nói thẳng là còn "cả nể", "xuề xòa" trong khi chấm vì cùng tổ, vì mối quan hệ thân thiết...

- Về khâu đánh giá: Bản thân người được chấm có khi còn mơ hồ, chưa nắm được bản chất của vấn đề, có những SKKN sao chép trên mạng vẫn đề xuất dự thi ở cấp cao hơn.

- Một tồn tại lớn nhất mà diễn ra ở tất cả các cấp chấm: là không có thông tin ngược trở lại với người làm, chỉ công bố là cô A, cô B được bậc bậc mấy. Và rõ ràng cái sai năm này, năm sau vẫn cứ lặp lại. Lẽ ra, nên cho xem biên bản chấm để thấy cái ưu và cái nhược của từng cá nhân. Và chấm như thế đã thuyết phục, đã làm thõa mãn người làm hay chưa? (Đối với cấp trường cần làm kỹ bước này thì những SKKN gửi dự thi các cấp sẽ có chất lượng hơn)

- Khi có những SKKN tốt thì chỉ cá nhân người làm ứng dụng chứ chưa được nhân rộng, mặc dù một số năm trở lại đây có những SKKN đã được đưa lên các trang web...

          Từ những thực trạng trên tôi xin được đề xuất khâu tổ chức, quy trình viết  SKKN và biểu chấm để bạn đọc tham khảo những ý cơ bản, thuận tiện cho quá trình thực hiện của mình.

          3. Đề xuất cách tổ chức, quy trình viết SKKN và biểu chấm

a) Về khâu tổ chức

- Đối với nhà trường: Lãnh đạo các trường phổ thông cần có kế hoạch ngay từ đầu năm học, cho giáo viên tự do đăng kí tên đề tài SKKN của mình.

- Phân công những người có năng lực, kinh nghiệm giúp đỡ thêm, có thể hỗ trợ thêm về mặt tài liệu, phương tiện, kinh phí, thời gian...Cần thiết có bản hướng dẫn chi tiết về cấu trúc SKKN và biểu chấm cho từng người tham khảo.

- Đối với tổ chuyên môn: Ngoài những giờ thao giảng, sinh hoạt khác, tổ chuyên môn cần tận dụng quỹ thời gian cùng trao đổi, thảo luận vấn đề đồng nghiệp đang làm để bổ sung giải pháp cho nhau. Đây cũng một trong những con đường nhằm đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn, và cùng một lúc đạt được 2 đích: tránh hình thức sinh hoạt giấy tờ; nâng cao hiệu quả công tác dựa vào những SKKN được tạo ra bằng tâm huyết và sự hỗ trợ của tổ nhóm.

-  Cần thành lập Hội đồng chấm đảm bảo quy trình, khoa học và công bằng.

b) Quy trình viết SKKN

          Một SKKN phải đảm bảo những yêu cầu về mặt nội dung và hình thức như sau:

Về mặt nội dung:

+ Phán ánh, đánh giá được thực trạng của vấn đề mình đề cập khi chưa áp dụng SKKN mới.

+ Trình bày được rõ ràng các biện pháp, phương pháp, quan điểm về mặt lí luận, thực tiễn của SKKN mới.

+ Các hướng dẫn cụ thể cho việc áp dụng, vận dụng SKKN ấy.

+ Hiệu quả sau khi áp dụng SKKN mới

+ Những đề xuất nào khi thực hiện SKKN đó

Về mặt hình thức:

          Cần trình bày rõ ràng theo bố cụ từng phần, mục, tiểu mục và đánh số, kí hiệu phân chia rõ ràng. Đầu tiên là Bìa, các Từ viết tắt, kí hiệu (nếu có), Mục lục, Nội dung SKKN, Phụ lục (các phiếu điều tra, giáo án minh họa), Tài liệu tham khảo. Trình bày ở phong chữ Times New Roman và cỡ chữ 14.....

Thông thường một SKKN gồm 3 phần cơ bản và ở mỗi phần có các tiểu mục nhỏ được sắp xếp theo thứ tự sau:

I. Đặt vấn đề

1. Lí do chọn đề tài hay Tính cấp thiết của đề tài

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Giả thiết khoa học

6. Đóng góp mới của đề tài

7. Thời gian nghiên cứu

Đối với phần Đặt vấn đề là hết sức quan trọng vì nếu chọn được một đề tài về mặt nội dung thể hiện sự cấp thiết cần phải giải quyết, cải tổ đã một phần thành công. Và nó thành công hơn nếu xét về mặt ngôn ngữ đảm bảo sự chặt chẽ, lo gic, đọc lên là biết được phạm vi, giới hạn cần làm thì quá trình tiến hành viết đề cương hay bản chính sẽ dễ dàng. Nếu làm NCKH thì nhất thiết có thể phải đủ cả 7 mục trên, còn viết SKKN không hoàn toàn như vậy, có thể lược bớt một số mục, riêng mục 1 nhất thiết phải có.

II. Giải quyết vấn đề

- Cơ sở khoa học (gồm cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn) của vấn đề nghiên cứu

- Trình bày được số liệu điều tra, khảo sát tình hình thực tế, thực trạng (của đơn vị, lĩnh vực, địa phương…) về những vấn đề liên quan đến đề tài.

- Đánh giá thực trạng về những vấn đề liên quan đến đề tài (gồm những mặt mạnh- ưu điểm, những hạn chế- khuyết điểm)

- Nguyên nhân của thực trạng trên

- Nêu hệ thống các giải pháp, những tác động (hoặc các kiến thức…), đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm, tính mới, tính thực tiễn,… để thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đẫ nêu ở phần đặt vấn đề

- Phân tích, tổng hợp, rút ra kết luận khoa học. Nêu được những kết quả thực hiện và những nhận định làm nổi bật được tác dụng của của đề tài thông qua việc đối chiếu các số liệu liên quan trước và sau khi thực hiện các giải pháp

III. Phần kết luận và kiến nghị

- Nêu được ý nghĩa của đề tài (tác dụng đối với bản thân, tập thể, địa phương, với lĩnh vực, bộ môn..)

- Đề xuất phạm vi và nội dung ứng dụng, những nội dung cần điều chỉnh, sửa đổi… Đề xuất những nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu và những kiến nghị đối với cấp liên quan

c) Biểu chấm SKKN

          1. Phần đặt vấn đề (tối đa cho 4 điểm).

- Nêu được lý do chọn đề tài, thể hiện được tính cấp thiết của đề tài

1,0 điểm

- Xác định đúng và đủ đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0,5 điểm

- Xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

1,0 điểm

- Nêu được giá trị giả thiết khoa học của đề tài

0,5 điểm

- Nêu được nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháp phù hợp

0,5 điểm

- Dự báo được những đóng góp mới của đề tài

0,5 điểm

          2. Phần giải quyết vấn đề (tối đa cho 12 điểm).

- Nêu được cơ sở khoa học (gồm cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn) của vấn đề nghiên cứu

1,0 điểm

- Trình bày được số liệu điều tra, khảo sát tình hình thực tế, thực trạng (của đơn vị, lĩnh vực, địa phương…) về những vấn đề liên quan đến đề tài.

2,0 điểm

- Phân tích, đánh giá những vấn đề thực tiễn để thấy được những nhược điểm, hạn chế, yếu kém của chủ đề được đề cập;

2,0 điểm

- Trình bày được quá trình giải quyết vấn đề một cách có hệ thống, theo một trình tự đẩm bảo tính chặt chẽ, logic..

2,5 điểm

- Trình bày được các giải pháp, những tác động (hoặc các kiến thức…), đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm, tính mới, tính thực tiễn,… để thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đẫ nêu ở phần đặt vấn đề

2,5 điểm

- Nêu được những kết quả thực hiện và những nhận định làm nổi bật được tác dụng của của đề tài thông qua việc đối chiếu các số liệu liên quan trước và sau khi thực hiện các giải pháp

2,0 điểm

          3. Phần kết luận và kiến nghị (tối đa 3 điểm):

- Nêu được ý nghĩa của đề tài (tác dụng đối với bản thân, tập thể, địa phương, với lĩnh vực, bộ môn..)

1,5 điểm

- Đề xuất phạm vi và nội dung ứng dụng, những nội dung cần điều chỉnh, sửa đổi… Đề xuất những nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu và những kiến nghị đối với cấp liên quan

1,5 điểm

          4. Hành văn và cách trình bày (tối đa 1 điểm).

          5. Cách xếp bậc:

Khung điểm

10 đến dưới 12

12 đến dưới 14

14 đến dưới 16

16 đến dưới 19

19 đến 20

Xếp bậc

1

2

3

4

Xuất sắc

         

          Tóm lại, hoạt động viết SKKN là một bước đệm nhằm hình thành phương pháp NCKH cho GV, CBQL, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc mà mình đang đảm nhận; đồng thời kích thích niềm say mê NCKH, tìm tòi, khám phá, phát hiện những cái mới, cái hay, cái tiến bộ củanhân loại. Để hoạt động này trở thành một phong trào thực sự và ngày càng có chất lượng, đáp ứng được những yều cầu của sự đổi mới tôi xin có những đề xuất sau:

+ Mỗi cá nhân khi viết một SKKN đồng nghĩa với việc tự trả lời cho mình các câu hỏi như: đề tài mình chọn đã đảm bảo Tính mục đích chưa? Tính thực tiễn chưa? Tính sáng tạo khoa học chưa? Tính vận dụng và khả năng mở rộng SKKN chưa?

+ Công tác viết SKKN nên chú trọng chất lượng, đề cao tiêu chí chuyên môn và tiêu chí khoa học, cải cách theo hướng “quý hồ tinh bất quý hồ đa”.

+ Nên khuyến khích, tạo điều kiện cho GV viết SKKN chứ không nên bắt buộc mỗi giáo viên phải có 1 bản SKKN/ 1 năm học;  Những SKKN đạt loại ưu -loại A nên cho phép bảo lưu trong một số năm. Nếu là một hoạt động bắt buộc thì cần có sự động viên, khen thưởng xứng đáng cho những GV có công trình xuất sắc, đồng thời kỷ luật nghiêm những cán bộ, GV tiêu cực trong quá trình viết, đánh giá SKKN.

+ Nên chăng các cấp chấm SKKN nên tiến hành tổng kết, rà soát lại kết quả nghiên cứu khoa học, viết SKKN trong thời gian 5 năm một lần, kiểm tra hiệu quả thực tiễn của những công trình đã được xếp loại xuất sắc và triển khai nhân rộng.

+ Nên có quy định nếu SKKN không đem lại kết quả thực tiễn thì không công nhận. Công khai các SKKN được xếp loại trên websile của ngành- xem đây như là một kênh để GV có điều kiện đánh giá hoặc học tập. Đây cũng là giải pháp chống “đạo văn”, chống "bệnh thành tích"...

+ Do trình độ đào tạo của đội ngũ nhà giáo, CBQL là không đồng đều. Vì vậy, khi tổ chức các buổi tập huấn, chuyên đề về hoạt động viết SKKN thì người trao đổi cần lưu ý: ngoài hướng dẫn về mặt lí thuyết- cách viết một SKKN cần có minh họa một đề tài cụ thể để người học không còn mơ hồ, khó hiểu. Mỗi người học tự chọn cho mình một đề tài và thực hành viết đề cương ngay tại buổi tập huấn để chỗ nào không hiểu thì giải mã, gợi ý luôn. Người trao đổi đổi nên hướng người học xây dựng đề tài theo kiểu hình tháp, đề tài càng hẹp thì quá trình làm càng dễ thực hiện, tránh được hiện tượng lan man, chung chung trong giải quyết vấn đề. (Tất nhiên, đối với những giáo viên đã trải qua công tác làm luận văn, luận án tốt nghiệp thì công đoạn này không cần thiết).

          + Công tác quản lí, chỉ đạo viết SKKN ở các trường phổ thông còn mang tính thời vụ, tháng tư nộp thì tháng ba làm. Vì vậy, cần có văn bản chính thống của các cấp quản lý về mặt cấu trúc của một SKKN, hướng dẫn cách viết và biểu chấm chung trong cả nước. Hiện nay, giữa các tỉnh từ khâu tổ chức, viết và đánh giá chưa có sự thống nhất chung, có tỉnh biểu chấm tối đa 20 điểm, có tỉnh biểu chấm 100 điểm.

          Trên đây, là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân rút ra từ quá trình làm cũng như được tham gia chấm SKKN, chắc chắn là chưa thực sự đầy đủ và bài viết này cũng không phải là đề tài mới mẻ nữa nhưng rất mong quý thầy, cô giáo và bạn đọc xây dựng thêm để có một Tài liệu tham khảo thực sự hữu ích và dễ hiểu cho hoạt động viết SKKN và công tác NCKH ở các trường phổ thông.

 

                                                                           Giáo viên:    LÊ THỊ BÍCH HỢI

                                   ( Trường Tiểu học Nguyễn Du- Thành phố Hà Tĩnh)

Tác giả: Trần Thị Cẩm Thuỷ
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 37
Hôm qua : 66
Tháng 04 : 180
Năm 2020 : 5.463